Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2011

Doanh thu quảng cáo trực tuyến liên tiếp lập kỷ lục

Năm ngoái, nghành quảng cáo trực tuyến của Mỹ đã ghi nhận con số doanh thu kỷ lục, khi tăng 15% lên tới số tiền 26 tỷ USD.


Thành công này đã cho thấy xu hướng ngày càng nhiều công ty tăng cường ảnh hưởng và tiếp cận với khách hàng qua đường Internet, bởi người tiêu dùng đang dành nhiều thời gian hơn cho các hoạt động trên mạng của mình.

Số liệu thống kê mới được Cơ quan quảng cáo tương tác công bố hôm 13/4 tiếp tục cho thấy, Internet là "miền đất hứa" cho các dịch vụ kinh doanh quảng cáo qua mạng, khi doanh thu quý IV/2010 tăng tới 19% lên số tiền 7,5 tỷ USD.

Vị phó chủ tịch các dịch vụ công nghiệp tại IAB, Sherrill Mane, phát biểu: "Chúng tôi đang có năm quý liên tiếp đạt mức doanh thu tăng trưởng ấn tượng, kể từ sau đợt suy thoái kinh tế đã ảnh hưởng rất nhiều tới nghành quảng cáo hồi năm 2009."

Báo cáo trên cũng chỉ ra rằng, hình thức quảng cáo trực tuyến phổ biến nhất hiện nay là thông qua mảng tìm kiếm. Kiểu quảng cáo này chiếm tới 46% doanh thu, và tăng lên 12% kể từ năm 2009.

Ngoài ra, quảng cáo qua video số chiếm 5% tổng doanh thu trong năm 2010, tương đương 1,4 tỷ USD. Còn hình thức quảng cáo phát triển nhanh nhất là kiểu tài trợ, tăng 88% lên số tiền 718 triệu USD.

Theo Vietnam+

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2011

Những công cụ để thực hiện Internet Viral Marketing

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Internet, nhất là của các trang Social Media các chiến dịch marketing trong thời buổi công nghệ không thể nào bỏ qua mảnh đất màu mỡ của Viral marketing, chỉ cần một cái click chuột vào nút thích và nút chia sẻ hay post link lên trang đánh dấu link thì nội dung truyền tải lập tức hiện diện trong cộng đồng mạng.

Internet Viral Marketing đang lên ngôi

Ngày nay, khi các phương tiện Marketing truyền thống như tiếp thị trên báo giấy, quảng cáo trên tivi, website tỏ ra kém hiệu quả mà lại ngốn một chi phí khá lớn thì môi trường Internet giúp những người làm marketing gửi đi thông điệp của thương hiệu với một tốc độ lây lan chóng mặt, vô cùng hiệu quả và không phải lo lắng về vấn đề “thắt chặt hầu bao” – người ta gọi đó là Viral Marketing (tiếp thị lan truyền).

Đây là hình thức sử dụng sức mạnh truyền thông của cộng đồng cư dân mạng để đưa thông điệp của mình lan tỏa tới đối tượng khách hàng mục tiêu. Trong quá khứ, nó đồng nghĩa với thuật ngữ “Words of Mouth” tức là maketing truyền miệng. Tuy nhiên ngày nay Viral Marketing không chỉ là “truyền miệng” đơn thuần nữa mà nó được thực hiện trên nhiều phương tiện khác nhau nhờ sự phát tán qua blog, mạng xã hội, các trang chia sẻ clip, hình ảnh, tin nhắn nhanh, e-mail… Và nếu ai đó có nhắc đến “Words of Mouth” thì ta cần phải hiểu đó cũng có thể là “Words of Social network”, “Words of SMS”…

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Internet, nhất là của các trang Social Media các chiến dịch marketing trong thời buổi công nghệ không thể nào bỏ qua mảnh đất màu mỡ của Viral marketing, chỉ cần một cái click chuột vào nút thích và nút chia sẻ hay post link lên trang đánh dấu link thì nội dung truyền tải lập tức hiện diện trong cộng đồng mạng.

Thông điệp của Viral marketing thường là một ý tưởng gây chú ý, tò mò, gây cười, được thể hiện dưới dạng clip, hình ảnh, một cuộc thi, một sự kiện gây chú ý hay đơn giản là một đoạn text. Thành công của một chiến dịch Viral Marketing là làm cho người ta thích thú với thông điệp đưa ra và tự nhiên lan truyền thông điệp quảng cáo cho nhau, có thể thông qua gởi link, đăng trên blog… Người xem có thể khen-chê, hưởng ứng, phẫn nộ nhưng cái quan trọng là càng ngày càng nhiều người bị “lây nhiễm”, và mức độ nhận biết thương hiệu của khách hàng theo đó mà tăng lên.

Những công cụ để thực hiện Internet Viral Marketing

Tại Việt Nam hiện nay, một số công cụ phổ biến để thực hiện Internet Viral Marketing bao gồm:

- Social Networks (Mạng xã hội): Các mạng xã hội mang tính kết nối như là những cộng đồng lớn và là đối tượng mục tiêu của những người làm Viral Marketing. Tùy vào đối tượng khách hàng mà sản phẩm nhắm tới, người ta sẽ lựa chọn các MXH phù hợp. Ví dụ nếu đối tượng là dân văn phòng thì MXH tập trung nhiều người trong số họ sẽ là Facebook, Henantrua, Noi.vn, Tamtay.vn, LinkedIn…, đối tượng sinh viên, học sinh thì MXH mang tính chất trẻ hơn như Zing Me, Yume, Go.vn, Cyworld, Truongxua, I-pro.vn… là phù hợp.

Một số công cụ để thực hiện Viral Marketing

Personal Publishing (Xuất bản mang tính cá nhân): Hình thức blog tuy có đôi chút thoái trào ở Việt Nam kể từ khi Yahoo 360 ra đi tuy nhiên WordPress, Opera, Yahoo 360 Plus, Multiply… vẫn quy tụ nhiều gương mặt hot blogger hay còn gọi là “những người gây ảnh hưởng”. Đây là đối tượng mà người làm Viral Marketing muốn nhắm vào để tác động đến các nhóm đối tượng thường xuyên đọc blog của họ. Micro blog như Tumblr, Twitter là một trào lưu rất thịnh hành trên thế giới nhưng tại Việt Nam xem ra lại không được ưa chuộng lắm, có lẽ do Facebook đã làm quá tốt phần việc của nó rồi, cho nên hiện nay người làm Viral Marketing cũng chưa chú trọng lắm mảng micro blogging này.

Instant Message (Tin nhắn nhanh): Ở Việt Nam, phần mềm tin nhắn nhanh phổ biến nhất chiếm vị thế áp đảo vẫn là Yahoo Messenger. Người dùng thích chia sẻ những link mà họ cho là hay ho, thú vị cho bạn bè qua Yahoo Messenger. Skype, Paltalk, MSN, Google Talk… cũng là những phần mềm nhắn tin nhanh được một bộ phận người Việt Nam sử dụng, tuy nhiên mức độ phổ biến của chúng không cao nên có thể coi (ở Việt Nam) Instant Message = Yahoo Messenger.

Online seeding (Gieo mầm điện tử): Cái tên đã nói lên bản chất vấn đề. Với phương tiện chủ yếu là forum (vốn rất thịnh hành ở Việt Nam), những người làm Online Seeding hay Forum Seeding phát tán thông điệp của họ trên các trang diễn đàn để thu hút thành viên chú ý đến topic của họ. Việc này về nguyên lý thì hết sức đơn giản, nhưng để tạo được một topic gây chú ý thực sự, kích thích bình luận, tranh luận giữa các thành viên là cả một nghệ thuật mà không phải Forum Seeder nào cũng làm được.

Other Social Media (Các trang truyền thông xã hội khác): Thực ra Social Media đã bao gồm cả các khái niệm Social Networks, Blog, diễn đàn, Instant Message kể trên nhưng sở dĩ người viết tách riêng các mảng kia ra vì nó quá rộng lớn. Phần còn lại của Social Media có thể kể đến những trang chia sẻ clip (Youtube, Clip.vn…), chia sẻ hình ảnh (Flickr, Photobucket…), chia sẻ tài liệu (Slideshare, Scribd…), đánh dấu trang (Linkhay, Buzz.vn, Tagvn…), chia sẻ, hỏi đáp (Wikipedia, Yahoo Answer…), tìm đường, tìm địa điểm (Diadiem, Vietbando, Thodia), giao dịch mua bán qua mạng (Chodientu, Enbac, 123mua…), mua hàng theo nhóm (Cungmua, Muachung, Zing Deal…)…

Brand SMS: Nếu là lần đầu tiên bạn nhận được 1 tin nhắn quảng cáo, thông báo… mà tên người gởi là Nokia, Sunsilk hay Trung tâm tiếng Anh nào đó, chắc chắn bạn sẽ ngạc nhiên vì mình đâu có lưu trong danh bạ điện thoại tên ai là Nokia, là Sunsilk… Nhưng đó chính là hình thức BrandSMS – là dịch vụ gởi tin nhắn chủ động chuyên gửi tin nhắn quảng cáo tới khách hàng là các thuê bao mạng điện thoại, có khả năng tạo tên đơn vị gửi riêng (header-name) hoặc để tên tổng đài gởi tin.

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011

Các bước thực hiện chiến dịch Internet Viral Marketing

Chúng ta phải chấp nhận là với marketing lan truyền trên Internet, phản ứng của người tiếp nhận có thể là hai chiều: có khen, có chê, và điều đó cũng tốt vì khán giả chỉ quan tâm đến những bàn luận mang tính khách quan, họ không thích nhồi nhét vào đầu những lời lăng xê hoa mỹ về sản phẩm.

Các bước thực hiện một chiến dịch Viral Marketing

Nghiên cứu

Cần phải xác định sản phẩm, thương hiệu sẽ làm viral marketing có tính chất gì, khách hàng mục tiêu của nó có những đặc điểm ra sao từ đó chúng ta mới có phương pháp tiếp cận phù hợp. Ví dụ sản phẩm cần làm viral là một loại smart phone dành cho nam nhân viên văn phòng, ta sẽ xem xét những nhu cầu, mong muốn của họ, xem thử có thể khai thác khía cạnh nào liên quan đến sản phẩm hi-tech. Ví dụ các nam nhân viên văn phòng thường muốn thể hiện sự chuyên nghiệp của mình qua một chiếc smart phone có những tiện ích văn phòng đa dạng, họ muốn check mail và online mọi lúc mọi nơi, họ thích khoe với bạn bè về những đồ hi tech mình sở hữu…

Sau đó ta xác định xem smart phone của chúng ta đáp ứng được những nhu cầu nào trong số những nhu cầu của họ, những điểm được và chưa được của sản phẩm của chúng ta so với các sản phẩm của đối thủ khác…

Chúng ta cũng cần xác định xem những khách hàng này thường xuyên lui tới ở những trang web nào. Với sản phẩm smart phone kể trên, khách hàng có thể có thể sử dụng một số mạng xã hội như Facebook, Yahoo 360Plus… – là các mạng mà dân văn phòng hay sử dụng, họ có thể lui tới các diễn đàn công nghệ như handheldvn, tinhte…, những diễn đàn, webiste đánh dấu trang mà nam giới thường hay ghé thăm như otofun, linkhay… cũng có thể quy tụ nhiều người trong số họ. Hãy nghiên cứu thêm các website này để nắm được các xu hướng thảo luận, sở thích của họ nhằm có cách tiếp cận tốt nhất. Bằng một số công cụ như Google Ad Planner, thậm chí chúng ta có thể xác định các website mà họ hay lui tới ngoài các website chúng ta đã định ra.

Các bước thực hiện một chiến dịch Viral Marketing trên internet

Xác định mục đích, mục tiêu làm viral marketing

Một chiến dịch viral marketing có thể có nhiều mục đích nhưng nhất định phải có một mục đích được ưu tiên nhất, để dựa vào đó chúng ta làm cho chiến dịch marketing đi đúng hướng, không bị “trật đường rày” khỏi mong muốn ban đầu. Nó có thể là nhằm quảng bá thương hiệu, có thể nhằm thúc đẩy doanh số, thu hút khán giả tham gia sự kiện, thông báo về một sản phẩm vừa tung ra, hay để cải thiện hình ảnh của thương hiệu đang bị đi xuống. Một chiến dịch viral marketing thành công là một chiến dịch làm cho phản hồi của khán giả đúng như mong muốn ban đầu chúng ta đã định ra.

Để xác định được cái đích cần đi đến của chiến dịch viral marketing, chúng ta cần xác định được các mục tiêu để đánh giá hiệu quả của nó. Với viral marketing trên Internet, mục tiêu đó sẽ là số lượng traffic (lượng truy cập) đổ về website của sản phẩm vào thời điểm làm viral, tỷ lệ người mở email quảng bá sản phẩm, số lượng người quan tâm nhấn Like, vote, follow hay số người đăng ký làm thành viên, tỷ lệ người giới thiệu link cho người khác (bằng một số kỹ thuật, người ta có thể xác định được một thành viên người đã gởi link đó cho bao nhiêu người mà những người đó phản hồi lại, như đăng ký, mua hàng, gởi bài thi…)…

Phối hợp cùng các mục tiêu về doanh số, thị phần, hay số lượng bài thi gởi về (nếu là cuộc thi) cùng những cảm nhận định tính về phản hồi tích cực, tiêu cực của khán giả đối với thông điệp đưa ra, chúng ta sẽ xây dựng được một cái đích để hướng chiến dịch Viral marketing đạt đến đó.

Xác định thông điệp làm viral.

Dựa trên những nghiên cứu kể trên, dựa trên mục đích, mục tiêu đề ra, chúng ta sẽ suy nghĩ ra những thông điệp sát sườn nhất. Một chiến dịch Viral Marketing chỉ thành công khi kích thích sự quan tâm, phản hồi, lan truyền… nên nếu thông điệp và cách thức hành động của chúng ta không làm được điều đó thì chiến dịch đó chỉ coi như một chương trình spam quảng cáo đơn thuần.

Quay trở lại với ví dụ về sản phẩm smart phone ở trên, trong thực tế đã có một công ty đi một chiêu bài thông minh, đó là nương theo làn sóng dư luận về iPhone 4 bị lỗi bắt sóng để gây chú ý và tự đề cao sản phẩm của mình. Công ty đó là Samsung, họ đã cho thực hiện tại Anh chương trình “Tặng Galaxy S cho người dùng iPhone 4”, qua đó họ khéo léo truyền đi thông điệp “Các vị đã phát chán vì chiếc iPhone trục trặc của mình rồi à, chúng tôi tự tin là sản phẩm Galaxy S sẽ là một sự thay thế hoàn hảo cho iPhone đó”. Chỉ tiến hành ở một nước, và chỉ “rỉ tai” với những người dùng iPhone 4 thế nhưng thông tin trên đã lan rất nhanh trên báo chí, và được xen lẫn vào giữa những chủ đề bàn tán của các blogger, các người dùng diễn đàn… về sự cố iPhone 4. Rồi người ta bắt đầu tò mò về chiếc Galaxy S, họ bàn tán, so sánh, tranh luận về nó khá hăng say, xem thử có thật là Galaxy S có thể sánh ngang với iPhone hay không. Nếu Samsung chỉ đơn giản tung quảng cáo khắp nơi, ra rả spam ở các diễn đàn, các trang Social Media thì có lẽ không có “lực lượng” người tình nguyện lan truyền miễn phí thông điệp của họ hùng hậu đến như vậy.

Thông điệp để làm Viral càng ngắn gọn, dễ hiểu thì càng dễ thành công. Thực tế cho thấy những thông điệp hài hước, gây tò mò hoặc mang tính thời sự mà nhiều người đang quan tâm… thì dễ được tiếp nhận nhất.

Ý tưởng và công cụ sử dụng

Có được một thông điệp tốt là ta đã có được 50% thành công, nhưng phải có một kịch bản xuất hiện phù hợp thì mới đạt được sự quan tâm của cộng đồng mạng.

Gần đây nhân cơ hội Facebook bị chặn đang làm cho cộng đồng mạng chộn rộn bàn tán, một clip được cho là của mạng xã hội Banbe.net tung ra để kéo khách từ Facebook sang mạng của mình đã gây thích thú và lan truyền trong cư dân mạng. Dựa trên một đoạn phim Tây Du Ký, người tạo ra nó đã xây dựng một kịch bản, đại loại là Tôn Ngộ Không thuyết phục Sư phụ và các đồ đệ bỏ Facebook sang Banbe.net, bên này có nhiều điều thú vị mà đỡ phải mệt đầu lo đổi IP để vào Facebook. Phim Tây Du Ký gắn liền với ký ức tuổi thơ của mỗi người, nay được xây dựng lại với những ngôn ngữ, những yếu tố rất đời thường mà cũng rất thời sự, ngay lập tức được mọi người thích thú truyền tay nhau và hiện nay nó đã xuất hiện tràn lan trên mạng.

Clip thấy trò đường tăng chuyển Facebook qua xài Banbe là một con virus đang "hot"

Như vậy thì ý tưởng công cụ truyền tải thông điệp đóng vai trò khá quan trọng, sử dụng ý tưởng tốt, công cụ phù hợp, hình thức trình bày có chất lượng sẽ góp phần đáng kể vào thành công của chiến dịch.

Một số ý tưởng làm Viral Marketing trên internet

Nguồn phát tán của thông điệp cũng đóng vai trò quan trọng. Nếu nguồn phát tán là từ những người, những tổ chức có tầm ảnh hưởng dư luận như các tờ báo, trang tin đông người xem, hot blogger, chủ các trang mạng xã hội nhiều bạn bè trong friend list, admin/mod hay các thành viên có uy tín ở các diễn đàn (gọi là influencer hay power user).. thì sẽ dễ dàng kích thích sự quan tâm từ dư luận. Còn nếu thông điệp được tung ra bởi một người bình thường không có gì gây chú ý thì cũng có thể thành công, nhưng sẽ phải nỗ lực nhiều hơn.

Nhắc lại cho các bạn một ví dụ, “hiện tượng” Thủy Top được giới thiệu lần đầu tiên bởi Hot blogger OnlyU, sau đó được Kênh 14 – một trang tin lá cải thu hút nhiều thành phần tuổi teen truy cập – đăng thêm một bài giới thiệu, và thế là cô ta nổi như cồn từ đó.

Để chiến dịch không đi “trật đường rày”

Thông điệp được truyền tải có khi nào vô tình bị người tiếp nhận “bẻ lái” làm trật con đường mà chiến dịch Viral Marketing đang hướng tới? Phản ứng của người tiếp nhận khi nhận được thông điệp không được tốt cho lắm làm cho chiến dịch mang tác dụng ngược thì sao? Đó là điều mà những người làm Viral Marketing trên Internet thường băn khoăn.

Chúng ta phải chấp nhận là với marketing lan truyền trên Internet, phản ứng của người tiếp nhận có thể là hai chiều: có khen, có chê, và điều đó cũng tốt vì khán giả chỉ quan tâm đến những bàn luận mang tính khách quan, họ không thích nhồi nhét vào đầu những lời lăng xê hoa mỹ về sản phẩm. Nếu bạn, hay khách hàng của bạn mong muốn một chiến dịch viral chỉ toàn những phản hồi tốt đẹp, và hô biến tất cả những bình luận trái chiều khó lọt tai, thì thành thật khuyên bạn nên tìm đến với những hình thức marketing truyền thống vốn mang tính truyền thông một chiều.

Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta thả nổi mọi thứ trôi tự do theo luồng dư luận, vì chúng ta được trả tiền để làm marketing chứ không phải làm chuyện ruồi bu. Cho nên dù thế nào cũng cần có biện pháp để kiểm soát được sự lan truyền của thông điệp để đảm bảo nó đem lại hiệu quả tích cực, dù biết việc này không dễ dàng gì. Nếu có quá nhiều người chê, sao không cài một vài chân gỗ vào khen; nếu thông điệp bị hiểu lầm, sao không tìm cách khéo léo đính chính; nếu search trên Google tên của Event, thấy toàn những lời chê bai từ những người đã đi coi năm trước, hãy đẩy lùi các kết quả tìm kiếm tiêu cực đó qua trang 2 bằng cách “dội bom” thật nhiều những tuyên truyền tốt về sự kiện trên các trang được máy tìm kiếm ưu ái. Nhưng khán giả không phải là những con lừa cho nên chúng ta phải “chữa cháy” khéo léo, nếu quá phô sẽ chẳng khác gì đổ thêm dầu vào lửa, và lúc đó chỉ có cách chuẩn bị tinh thần cho một đợt “uýnh hội đồng” tiếp theo của dân mạng.

Đo lường, đánh giá hiệu quả:

Nếu ngay từ đầu tiên, bạn đã xác định các mục tiêu định tính, định lượng rõ ràng thì không khó gì để đo lường hiệu quả. Làm marketing trên Internet có một điểm thuận lợi là kết quả thể hiện ngay bằng những con số hết sức rõ ràng do hệ thống cung cấp, chúng ta không cần phải nghi ngờ về mức độ sai lệch như các phương pháp đo lường của marketing truyền thống.

Bằng các công cụ thống kê việc truy cập website như Google Analytics, Getclicky, chúng ta có thể dễ dàng thống kê được lượng truy cập, các nguồn website dẫn về trang của chúng ta (vì chúng ta làm viral bằng cách tung thông điệp ra nhiều website khác nhau nên chỉ số này rất quan trọng để xác định người dùng tìm đến website của chúng ta từ những trang nào)… Bằng những công cụ như URL Builder của Google, chúng ta biết chính xác có bao nhiêu click trỏ về trang của chúng ta từ những trang web khác (cách này rất phù hợp để đo lường hiệu quả của những bài PR online). Chúng ta cũng có thể xây dựng những công cụ tracking của riêng mình nhằm phục vụ riêng cho tính đặc thù của chiến dịch.

Kết hợp cùng với các phòng ban, bộ phận khác, chúng ta có thể thu thập thêm những số liệu về doanh số, thị phần (nếu là chiến dịch viral để đẩy doanh số), số lượt đăng ký tham gia, số vé phát ra (nếu là Event), số bài dự thi (nếu là cuộc thi)…

Cuối cùng, đừng bỏ qua những thống kê định tính về phản ứng của người tiếp nhận đối với thông điệp, ảnh hưởng của thông điệp đến hình ảnh của đơn vị làm chủ thông điệp. Lượt truy cập đông đảo chứng tỏ chiến dịch viral được quan tâm, nhưng những lời khen chê của khán giả sẽ phản ánh tác động tích cực hay tiêu cực mà chiến dịch mang lại.

Có thể thấy, Viral Marketing là con đường nhiều người muốn đi những không phải ai cũng đến nơi được. Đặc biệt là ở Việt Nam, xu hướng này vẫn còn khá mới với các nhà quảng bá thương hiệu trong nước, cộng đồng tham gia sáng tạo, thiết kế cho Viral Marketing chưa nhiều. Tuy nhiên ta vẫn hy vọng cùng với sự đầu tư nghiêm túc của các nhãn hàng cũng như công ty quảng cáo, thời gian tới sẽ có nhiều thông điệp với quy mô và chất lượng vượt trội được tiếp tục “lan tỏa”…

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2011

Bạn biết gì về Forum Seeding

Có rất nhiều ý kiến khác nhau về hình thức quảng bá Online Seeding hay Forum Seeding (Gieo mầm điện tử). Thế nó có lợi hay có hạy, có thể phát triển ở Việt Nam được hay không?

Các hiệu ứng mà forum seeding có thể tạo ra được?

“Conecting People”- slogan của Nokia rất đúng để thâu tóm kết luận khi bạn tìm tòi về cái gọi là Gieo-mầm-điên-tử: Online Seeding hay Forum Seeding. Là một ngành mới tách riêng từ mảng Marketing-Truyền thông, gần giống như những PR quan hệ với công chúng với xã hội giữa người với người thì OS (FS) họ cũng làm những công việc liên hệ, họ quan hệ với cộng đồng ảo, những người thường xuyên hoặc một ngày có thời gian để lên mạng và đó là môi trường để cho OS (FS) giao tiếp. Ví dụ: bạn có thể hiểu nó nôm na như thế này nhé, thay vì hoạt động tán chuyện thường thấy khi gặp gỡ trực tiếp hay qua điện thoại với nhau thì hình thức OS hay FS nhắc đến ở trên thực hiện thông qua kênh Internet, đồng thời đối tượng ngắm đến là những nội dung vô tình nhưng có chủ ý nhằm mang lại những hiệu-ứng-cần-thiết.

OS hay FS là chỉ những sự gieo mầm trên các diễn đàn, trên các cộng đồng mạng, trên các phương tiện mà máy tính và mạng có thể vương tới nhằm một mục đích đó là gieo giắc, đưa vào suy nghĩ, truyền bá trên mạng cho một sản phẩm mới sắp sửa được tung ra cho mọi người. Qua đó có thể lấy ý kiến của mọi người về sản phẩm đó để phản ánh lại cho nhà cung ứng sản phẩm hay dịch vụ đó biết để có thể phát triển thêm hoặc chỉnh sửa trước khi tung ra phiên bản chính thức tới tay người tiêu dùng cuối cùng.

Ở Việt Nam ngành này chỉ mới phát triển trong khoảng vài năm gần đây, khi mà truyền thông thương mại điện tử dần trở nên quen thuộc với tất cả mọi người. Còn trên thế giới ngành này cũng đã phát triển từ khoảng hơn chục năm nay khi có sự xuất hiện của các mạng cộng đồng, sự xuất hiện của Blog là thời kỳ nở rộ của dịch vụ này. Trên mạng hiện giờ có nhưng Blogger nổi tiếng mà trang Blog của họ có hàng ngàn người vào mỗi ngày hay những entry mới nhất của họ có hàng trăm comments. Một môi trường quảng bá hình ảnh cụ thể và phản ảnh lại những thông tin rất hữu ích.

Có thể nói rằng đây là hình thức truyền lửa một cách khôn ngoan, khéo léo và rất kinh tế cho những chiến lược phát triển sản phẩm của một công ty. Như những vụ Microsoft, Yahoo… bị lộ những phiên bản dùng thử, hay bị lộ các thông tin về sản phẩm đều là sự Seeding cho sản phẩm mà họ sắp tung ra ngoài thị trường vào những tháng gần nhất là minh chứng thuyết phục cho lợi ích của OS hay FS. Cho nên không thể suy nghĩ theo hướng một chiều OS hay FS chỉ khoanh vùng nhóm đối tượng sản phẩm mới mà ngay cả đó là sẳn phẩm đã có mặt sẵn trên thị trường nhưng cần quảng bá thêm thương hiệu, đã lớn nay còn lớn hơn, đã tốt nay càng tốt hơn… Liệu bạn có nghĩ các hoạt động của OS hay FS mang tầm quá khủng? quá vĩ mô? v.v.. và v..v? Không đâu bạn ạ, ngày nay thì chúng không còn quá xa lạ: Bạn nhận được một link quảng cáo điện thoại khá… hot. Giờ nghỉ trưa vắng vẻ, một cô gái trẻ “làm gì đó” với chiếc điện thoại và tỏ vẻ thỏa mãn… Video clip quảng cáo dù nghiệp dư nhưng khiến bạn thích thú và gửi cho bạn bè xem. Bạn đã vô tình trở thành một mắt xích trong công việc của những forum seeding. Rất quen thuộc phải không nào? Thế đấy, nó trá hình cũng rất tài tình và “hợp lí”.

Các dạng của Forum Seeding

Ồ, hóa ra OS hay FS gần gũi chúng ta đến thế sao? Vậy chúng được chia dạng như thế nào? “Forum seeding có hai dạng: một là xác định đối tượng, forum để rồi seed các chủ đề đề cập, khai thác, lèo lái các chủ đề. Hai là tìm admin của các forum nhắm đến trả chi phí để dán topic cần thảo luận ở hàng ưu tiên. Dù thực hiện theo cách nào thì công việc của những người làm forum seeding là theo dõi, chăm sóc cho các topic ấy”. Các bạn suy ngĩ và tưởng tượng đi, quảng cáo sản phẩm là một dạng truyền tai nhau, tôi nói anh nghe, anh nói tôi nghe. Ở đây, với những topic trên các diễn đàn thì bạn có cả ngàn người đọc, một topic “nói” thì bao nhiêu người khác sẽ “nghe” lại…”…Cứ thế, cứ thế hiệu ứng OS hay FS sẽ lan truyền và đạt được đích ngắm. Tuy nhiên, cái nào cũng có nhiều mặt, OS hay FS cũng không ngoại lệ. Sinh ra, tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, nó mang đầy đủ những tính cạnh tranh khốc liệt, không khoan nhượng, trở thành công cụ để đẩy mạnh một thương hiệu nhưng đồng thời có thể phá sập một thương hiệu khác: “ Cực hơn và buồn hơn nữa là không hẳn phi vụ seeding nào cũng sạch, nhất là khi lỡ nhận lời seed cho một công ty để kéo khách hàng từ công ty đối phương, mình phải giả bộ so sánh hai cái, nêu ra cái lợi của cái này và chỉ ra bất lợi của cái kia. Không hẳn là bẩn nhưng một nửa sự thật thì không là sự thật…”,- lời tự bạch của một Forum Seeder.

Được ví như một virus của marketing, OS hay FS sẽ sinh sôi nảy nở hay bị triệt tiêu? Câu hỏi này được đặt ra và câu trả lời hãy còn nằm trong tương lai phía trước.